Nâng cao tính tự chủ của người học thông qua CALL - vai trò quan trọng của giáo viên để đảm bảo thành công


29-07-2014
Việc học chủ động đem lại một thách thức mới cho giáo viên dạy tiếng Anh. Trên thực tế, tạo ra một môi trường học chủ động là rất khó khăn. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải tính toán kỹ lưỡng, chuẩn bị chu đáo cũng như liên tục điều chỉnh mình cho phù hợp với nhu cầu của người học. Giáo viên cũng cần tích cực hoàn thiện mình nhằm đủ sức đảm nhận nhiều vai trong một môi trường học tập theo định hướng hỗ trợ người học.
1. Giới thiệu

Khi bàn về tính tự chủ của người học có lẽ định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất là của Holec (1981) với quan niệm tính tự chủ của người học là “khả năng tự chịu trách nhiệm với việc học của mình”. Khả năng tự chịu trách nhiệm của người học với việc học có thể bao gồm khả năng đưa ra những quyết định liên quan đến (1) xác định mục tiêu học tập; (2) xác định nội dung và lộ trình; (3) lựa chọn phương pháp học tập; (4) theo dõi quá trình tiếp thu; và (5) đánh giá những gì đã tiếp thu (Holec, 1981).

Cũng giống những giáo viên dạy các môn khác, giáo viên dạy ngoại ngữ ngày nay cũng nhìn nhận khả năng tự chủ trong học tập là một mục tiêu quan trọng cần hướng tới. Điều đó phù hợp với khái niệm về người học “giỏi” của Rubin (1975) là người biết xác định phương hướng học tập và chịu trách nhiệm với việc học của mình.

Vai trò của công nghệ trong việc nâng cao tính tự chủ của người học được đánh giá cao trong nhiều năm qua với rất nhiều ý kiến cho rằng công nghệ có khả năng nâng cao tính tự chủ của người học ngoại ngữ và hỗ trợ những kiểu học khác nhau. Internet và máy tính cung cấp những nguồn tài nguyên dồi dào cho người học tự chủ, một số gói sản phẩm phần mềm có thể cung cấp cả một chương trình hoàn chỉnh cho người học (Healey, 2002).

2. Công nghệ có thể đóng góp những gì?

Công nghệ cung cấp một lượng ngữ liệu đầu vào vô cùng lớn: khối lượng dữ liệu khổng lồ cho việc dạy và học, bao gồm các dạng văn bản, đồ họa, các file âm thanh và hình ảnh, cả trực tuyến lẫn ngoại tuyến. Một đặc điểm hữu ích của máy tính và mạng Internet là khả năng cung cấp các cơ hội luyện tập theo nhiều cách khác nhau. Công nghệ cung cấp các công cụ để người học có thể tạo ra các trang web, viết blog, tham gia diễn đàn, viết bản tin, tạo các sản phẩm thuyết trình, trò chuyện tán gẫu, hội thoại truyền hình, cũng như gây dựng những cộng đồng mạng với những sở thích khác nhau. Theo đó, việc sử dụng công nghệ có thể tăng cường tính tự chủ của người học cũng như tạo ra một môi trường học tập linh hoạt và thân thiện.

3. Hạn chế của công nghệ

Các giải pháp công nghệ sẵn có sẽ rất khó, nếu không muốn nói là không thể tạo ra sự gắn kết ràng buộc người học với cộng đồng học tập. Chính giáo viên hoặc người hỗ trợ sẽ là những người có nhiệm vụ thiết lập các mối liên hệ giữa những gì người học đang học một cách độc lập với những gì diễn ra trên lớp học. Trong một môi trường học tập đậm chất công nghệ với vô vàn những lựa chọn, người học có thể cảm thấy choáng ngợp và không thể quyết định cần phải học cái gì. Việc học lan man không nhắm vào mục tiêu nào có thể sẽ không đem lại nhiều tiến bộ. Luyện đi luyện lại trên cùng một giao diện quen thuộc đôi khi khiến người học cảm thấy nhàm chán. Kết quả là người học không biết cách tự học sao cho hiệu quả. Cần phải có những hướng dẫn hỗ trợ nhất định từ ai đó, có lẽ sự hỗ trợ tốt nhất sẽ là từ giáo viên.

4. Vai trò của người thiết kế chương trình và của giáo viên

Nếu giáo viên tham gia thiết kế chương trình, cần tuân thủ một số nguyên tắc giúp tăng cường tính tự chủ của người học và hỗ trợ quá trình chuyển giao trách nhiệm ra quyết định từ giáo viên sang cho người học. Những nguyên tắc đó là: khóa học cần đáp ứng mục tiêu học tập của người học, các hoạt động học cần có liên hệ trực tiếp với một phương pháp giảng dạy, các nhiệm vụ học tập cần có mối liên hệ với những nhiệm vụ giao tiếp ở thế giới thực, khóa học cần tăng cường khả năng tự đánh giá của người học (Cotterall, 2000).

Nếu giáo viên chỉ đóng vai trò của người dạy hay người hỗ trợ thì trọng tâm nên tập trung vào việc giúp đỡ người học tự học với động lực cao nhất. Một cách để khơi gợi sự hứng thú của người học là tạo ra một môi trường học tập phù hợp, trong đó người học nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Anh với tư cách là một công cụ giao tiếp và do vậy sẽ tò mò hơn về nội dung học (Zhuang, 2010). Nếu người học tự học với sự trợ giúp của công nghệ thì rõ ràng là họ cần sự tư vấn về việc lựa chọn tài liệu nào hay làm việc với nguồn ngữ liệu nào thì phù hợp. Trong tình huống đó, người dạy đóng vai trò quan trong trong việc giúp người học nhận ra mình đang ở đâu trên con đường học tập và cần phải tiến hành bước đi tiếp theo ra sao.

Giáo viên cũng giúp người học tổ chức việc học và tạo động lực để tiếp tục học. Người học cần sự hỗ trợ dẫn dắt của giáo viên trong việc xác định và hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Giáo viên có thể giúp hình thành và tổ chức các cộng đồng người học, thiết lập các nhóm làm việc, cung cấp hỗ trợ hậu cần cho các dự án theo nhóm, tạo ra các mối liên hệ giữa việc tự học và các hoạt động học khác trên lớp và ở nhà (Healey, 2002). Những hoạt động này gồm các nhiệm vụ như giao bài theo nhóm, học làm dự án, tranh luận và các hoạt động cá nhân khác như viết nhật ký học tập (reflective journals), đọc rộng (extensive reading) nhằm tăng cường tính tự chủ của người học.

Ngoài ra, nhằm thoát dần khỏi sự lệ thuộc vào giáo viên, người học cần thay đổi thái độ học từ thụ động sang một thái độ chủ động hơn. Vai trò của giáo viên trong môi trường CALL là giúp người học tìm kiếm tài liệu và tham gia vào các hoạt động học tập (Kavaliauskiene, 2002). Có nhiều cách giáo viên có thể giúp người học với những công cụ CALL như tìm kiếm các nguồn tài nguyên để cung cấp cho người học, giao nhiệm vụ tìm tài nguyên hoặc sử dụng các công cụ trực tuyến cụ thể nào đó cho người học, tạo nội dung học tập hoặc yêu cầu người học tạo nội dung cũng như trao đổi với nhau thông qua các trang web, đặc biệt là các trang web 2.0. Những hoạt động cụ thể mà người học có thể tham gia là tìm kiếm tài liệu, tìm kiếm bạn mạng, tham gia vào các cuộc thi trực tuyến, tham gia các phòng chat, đọc sách báo, tạp chí tiếng Anh.

Giáo viên CALL cũng đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và điều phối các hoạt động học tập. Giao nhiệm vụ theo nhóm hoặc theo đôi có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người học hợp tác và học hỏi lẫn nhau. Các công cụ tương tác đồng thời (Yahoo Messenger, Gtalk, Skype) và không đồng thời (diễn đàn, blogs, wiki) giúp người học có thể hoàn thành các nhiệm vụ được giao khi đang ở những địa điểm khác nhau. Các cuộc hội thoại qua chat, các bài viết trên diễn đàn blog, wiki có thể lưu lại để chia sẻ với những nhóm khác và giáo viên nhờ đó có thể theo dõi quá trình học thông qua những thảo luận trên những công cụ đó.

Để giúp người học phát triển tính tự chủ trong môi trường CALL, giáo viên nên chấp nhận vai trò mới của mình. Họ nên xác định vai trò của bản thân cần thiên nhiều hơn về người quản lý, người cung cấp tài nguyên và tư vấn cho người học.

5. Kết luận

Tóm lại, việc học chủ động đem lại một thách thức mới cho giáo viên dạy tiếng Anh. Trên thực tế, tạo ra một môi trường học chủ động là rất khó khăn. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải tính toán kỹ lưỡng, chuẩn bị chu đáo cũng như liên tục điều chỉnh mình cho phù hợp với nhu cầu của người học. Giáo viên cũng cần tích cực hoàn thiện mình nhằm đủ sức đảm nhận nhiều vai trong một môi trường học tập theo định hướng hỗ trợ người học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Cotterall, S. (2000). Promoting learner autonomy through the curriculum: Principles for designing language courses. ELT journal, 54(2), 109-117.
  2. Healey, D. (2002). Learner Autonomy with Technology: What do language learners need to be successful? TESOL 2002, CALL-IS Academic Session.
  3. Holec, H. (1981). Autonomy and Foreign Language Learning. Oxford: Pergamon.
  4. Kavaliauskiene, G. (2002). Three Activities to Promote Learners' Autonomy. The Internet TESL Journal, VIII(7).
  5. Rubin, J. (1975). What the" good language learner" can teach us. TESOL quarterly, 41-51.
  6. Zhuang, J. (2010). The Changing Role of Teachers in the Development of Learner Autonomy-Based on a Survey of" English Dorm Activity". Journal of Language Teaching & Research, 1(5). 
Người đăng:Nguyễn Quang Vịnh (Khoa tiếng Anh, Trường Đại học Hà Nội)
29-07-2014