Hướng dẫn học ngoại ngữ trực tuyến - Phần 1


23-09-2014
Dạy-học ngoại ngữ không phải là một nghề mới mẻ ở Việt Nam nhưng dạy-học ngoại ngữ trực tuyến có hướng dẫn thực sự là một hoạt động mới, hiện đang được áp dụng tại một số trường chuyên ngữ lớn ở bậc đại học hoặc do các công ty tư nhân triển khai tới cá nhân người học theo dạng mua tài khoản học trực tuyến. Bài viết này sẽ đề cập tới 4 nội dung: 1) các khái niệm cơ bản về dạy học trực tuyến và hướng dẫn học trực tuyến; 2) các thành tố của một hệ thống học ngoại ngữ trực tuyến (LMS); 3) vai trò của thầy hướng dẫn học ngoại ngữ trực tuyến; 4) đề xuất và khuyến nghị cho hoạt động hướng dẫn học trực tuyến tại Việt Nam. Một số nghiên cứu về dạy-học trực tuyến tại Việt Nam nói chung cũng như trong khuôn khổ hoạt động của Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 nói riêng sẽ được đề cập trong phần 4 này.
Dạy học từ xa bắt đầu phát triển khi nhiều người có nhu cầu học tập nhưng do hoàn cảnh địa lý hoặc do thời gian không phù hợp, họ không thể tham gia các lớp học trực tiếp theo kiểu truyền thống. Tại Canada là một nước có ít dân và dân số sống dàn trải trên một diện tích lãnh thổ rộng lớn, dạy-học từ xa bắt đầu với hình thức gửi bài qua đường bưu điện, thầy hướng dẫn tư vấn hỗ trợ người học qua thư hoặc điện thoại. Dạy học từ xa đặc biệt phát triển với sự bùng nổ của công nghệ thông tin (CNTT), máy tính và mạng Internet. Ví dụ như tại Pháp, «campus numériques» (tạm dịch là Đại học số) đã được thành lập năm 2001 theo chiến lược phát triển công nghệ của Bộ Đại học và Nghiên cứu. Tham gia vào dự án này có 40 trường đại học, sử dụng 2.000 hệ thống phần mềm trực tuyến (platform) để giảng dạy 280 chương trình (Bertrand, 2003). Trong hệ thống dạy-học mới này, người thầy truyền thống trên lớp đã được thay thế bằng thầy hướng dẫn trực tuyến với những vai trò và năng lực chuyên biệt.

Bài viết này sẽ đề cập tới 4 nội dung: 1) các khái niệm cơ bản về dạy học trực tuyến và hướng dẫn học trực tuyến; 2) cấu thành của một hệ thống học ngoại ngữ trực tuyến; 3) vai trò của thầy hướng dẫn học ngoại ngữ trực tuyến; 4) hướng dẫn học trực tuyến tại Việt Nam với các đề xuất và khuyến cáo. Một số nghiên cứu về dạy-học trực tuyến tại Việt Nam nói chung cũng như trong khuôn khổ hoạt động của Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 nói riêng sẽ được đề cập trong phần 4 này.

1. Một số khái niệm cơ bản về hướng dẫn học trực tuyến

1.1. Đào tạo từ xa, đào tạo mở từ xa, đào tạo trực tuyến

Theo Bảng thuật ngữ về đào tạo mở từ xa của Trung tâm nguồn tư liệu vùng về đào tạo chuyên nghiệp (GIP ARIFOR) của Pháp (Poittevin & al., 2007), đào tạo từ xa (D-learning, distance learning) là một mô hình đào tạo khác với đào tạo trực tiếp tại một lớp học truyền thống (face to face training). Hệ thống đào tạo từ xa bắt nguồn từ các chương trình đào tạo chuyên nghiệp và thường xuyên cho các công ty, tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu đào tạo mà không cần đi tới địa điểm tổ chức đào tạo và không cần gặp mặt trực tiếp thầy dạy.

Phương thức thực hiện các hoạt động dạy-học từ xa khá đa dạng: qua bưu điện, tự học trực tuyến với các tài liệu hỗ trợ như CD-ROM, DVD-ROM, bài tập trực tuyến, bài tập tải từ trên mạng xuống. Học viên có thể liên hệ với thầy hướng dẫn từ xa qua thư bưu điện, thư điện tử, điện thoại hoặc các công cụ liên lạc trực tuyến qua mạng Internet.

Đào tạo mở từ xa (distance & open learning) là mô hình đào tạo có tổ chức và mục tiêu cụ thể, có tính đến đặc điểm của từng người học xét trên 3 phương diện: thời gian, địa điểm và hoạt động. Nếu người học không cần di chuyển tới một địa điểm học cụ thể thì gọi là đào tạo từ xa; nếu người học có thể học theo nhịp độ, thời gian cá nhân và lựa chọn các hoạt động phù hợp với nhu cầu cá nhân thì gọi là đào tạo mở. Một chương trình đào tạo kết hợp được cả 3 yếu tố này gọi là đào tạo mở từ xa. Tại Pháp, khái niệm đào tạo mở đồng nghĩa với các khái niệm như linh hoạt, mềm dẻo vì người học có thể tham gia hoặc ngừng học bất cứ lúc nào mà họ muốn.

Đào tạo trực tuyến (e-learning) là hoạt động đào tạo từ xa chỉ sử dụng CNTT dựa vào mạng Internet để dạy-học và giao tiếp giữa người hướng dẫn-học viên, học viên-học viên nhờ vào các công cụ như thư điện tử, diễn đàn, tin nhắn, chat, webcam, chức năng chữa văn bản wiki để nhiều cá nhân có thể viết chung một bài.

Hệ thống phần mềm dạy-học trực tuyến (Learning Management System - LMS hoặc platforme) là một hệ thống phần mềm cài đặt trong máy chủ, cho phép quản trị một hệ thống có đầy đủ chức năng và công cụ để đào tạo từ xa, liên kết các cá nhân tham gia quá trình dạy học thông qua mạng nội bộ hoặc mạng Internet (Delaby, 2006).

1.2. Hướng dẫn học trực tuyến

Theo (Poitlevin & al., 2007), hướng dẫn học trực tuyến (online tutoring) là các hoạt động hỗ trợ người học trực tuyến khá đa dạng như:
-      Giúp người học xác định được nội dung và lịch trình học phù hợp với nhu cầu và điều kiện cá nhân;
-      Kèm cặp để học viên hiểu nội dung cần học thông qua các câu hỏi gợi mở suy nghĩ hoặc trả lời các câu hỏi của học viên;
-      Tổ chức các hoạt động học nhóm qua lớp học ảo;
-      Theo dõi tiến độ học của các cá nhân, phát hiện khó khăn trong quá trình học để động viên và tìm giải pháp cùng người học nhằm giải quyết các khó khăn này.

So với hoạt động của giáo viên truyền thống, người thầy hướng dẫn học trực tuyến thường không phải làm các hoạt động sau:
-      Soạn bài giảng: bài giảng do một nhóm chuyên gia thiết kế từ trước, người hướng dẫn chỉ hướng dẫn học theo đúng nghĩa của từ này. Đôi khi, người hướng dẫn phải tìm thêm bài hoặc soạn thêm một số bài tập bổ trợ nhưng việc này thường không nhiều và cũng tuỳ thuộc vào nhiệt tình của từng người hướng dẫn;
-      Đánh giá kết quả học để cấp chứng chỉ hay cấp bằng (summative assessement). Trong hệ thống đào tạo từ xa, một số nội dung tự đánh giá đã được soạn dưới dạng bài tập trắc nghiệm trực tuyến có câu trả lời tự động. Các kỳ thi đánh giá chính thức để cấp chứng chỉ hay cấp bằng được thực hiện trực tiếp với sự có mặt của học viên để tránh gian lận. Còn lại chỉ là các hoạt động đánh giá quá trình học (formative assessement) mà người hướng dẫn học có thể tiến hành với người học để chỉ cho họ biết được điểm yếu, điểm mạnh và điều chỉnh mục tiêu hoặc phương pháp học.
Vai trò cụ thể của thầy hướng dẫn sẽ được đề cập trong phần 3.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Bertrand, I. (2003). Les dispositifs de FOAD dans les établissements d'enseignement supérieur: transfert ou intégration? Distances et savoirs, 1, 61-78. doi: 10.3166/ds.1.61-78.
  2. Bourdet, J-F. (2007). Tutorat en ligne et création d'un espace formatif. Alsic, 10(1), 23-32. Retrieved f-rom http://alsic.revues.org/522?lang=en
  3. Delaby, A. (2006). Créer un cours en ligne. De l’analyse de l’environnement à la réalisation technique. Paris, France: Éditions d’Organisation.
  4. Develotte, C. & Mangenot, F. (2004). Tutorat et communauté dans un campus numérique non collaboratif. Distances et savoirs, 2004/2(2), 309-333. doi: 10.3166/ds.2.309-333.
  5. Dinh, L. G. & Dao, T. P. (2013). Psychological analysis of online language learners and related solutions for online language teaching. Conference paper, GLoCALL 2013, 28-30 November 2013, Danang, Vietnam.
  6. Do, Q. H. (2008). Concevoir un enseignement hybride du français, le « Pratique de la langue III », pour les étudiants en deuxième année du Département de français, Université de Hanoï. Mémoire de master professionnel UTICEF, Université Louis Pasteur à Strasbourg, France.
  7. Ernst, C. (2008). E-learning: Conception et mise en oeuvre d’un enseignement en ligne. Guide pratique pour une e-pédagogie. Toulouse, France: Cépaduès-Éditions.
  8. Gazaille, M. (2010). Tutorat à distance et développement des compétences professionnelles des futurs enseignants d’anglais langue seconde. Questions Vives, 7(14). doi: 10.4000/questionsvives.509.
  9. Glikman, V. (2002). Des cours par correspondance au « e-learning ». Panorama des formations ouvertes et à distance. Paris, France: Presses universitaires de France.
  10. Guillemet, P. & Pelletier, S. (2005). Le tutorat à la Télé-université. Distances et savoirs, 2005/2(3), 207-230. doi: 10.3166/ds.3.207-230.
  11. Le, D. L., Nguyen, A. T., Nguyen, D. T., Hunger, A. (2008). Learner Profile supports interaction between objects in e-Learning System. Conference paper, The 7th European Conference on e-Learning (ECEL 2008), 6-7 November 2008, Cyprus.
  12. Pham, T., Tang, H., Nguyen, V. (2013). Learner – Content Interaction in an Online English learning Course: A Case Study. Conference paper, The 5th “Engaging with Vietnam – An Interdisciplinary Dialogue” conference, 16-17 December 2013, Thai Nguyen, Vietnam.
  13. Poittevin, S., Jolly, V., & Nimier, M. L. (2007). Glossaire de la formation ouverte à distance, FOAD à la carte. GIP ARIFOR. Retrieved f-rom http://foad.arifor.fr.
  14. Sheils, J. (1996). La communication dans la classe de langue. Strasbourg, France: Editions du Conseil de l’Europe.
  15. Tardif, J. (1992). Pour un enseignement stratégique. L’apport de la psychologie cognitive. Montréal, Canada: Les éditions LOGIQUES.
  16. Vulbeau, A. (2007). Le tutorat pédagogique.
Informations sociales, 2007/2(138), 65-66. Retrieved f-rom http://www.cairn.info/revue-informations-sociales-2007-2-page-65.htm
  17. Conseil de l'Europe (2001). Un cadre européen commun de référence pour les langues: apprendre, enseigner, évaluer. Paris, France: Didier.
  18. Quyết định 1400/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/2008 về việc Phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020".
Người đăng:Nguyễn Thị Cúc Phương (Trường Đại học Hà Nội)
23-09-2014