Hạ tầng mạng công nghệ thông tin dành cho dạy học ngoại ngữ


28-07-2014
Xu thế ứng dụng mạng thông tin vào việc đào tạo các môn học đã và đang trở thành phổ biến. Bài báo này giới thiệu và thảo luận về một số yếu tố quan trọng của hạ tầng mạng thông tin khi triển khai dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam.

1. Đặt vấn đề
Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đã mang lại những lợi ích to lớn cho nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục – đào tạo. Đặc biệt, với sự ra đời của mạng Internet và những ứng dụng truyền thông đã giúp xoá đi những hạn chế về mặt không gian, thời gian trong việc dạy và học, đồng thời giúp chúng ta dễ dàng chia sẻ, tiếp cận các kho tri thức của nhân loại. Ứng dụng mạng thông tin vào việc dạy và học ngoại ngữ đang là một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất trong các môn học.
Triển khai việc dạy và học trên mạng bao gồm hai yếu tố chính: Yếu tố con người – bao gồm người dạy, người học và những người vận hành; Hạ tầng mạng thông tin – bao gồm máy tính, mạng máy tính, mạng viễn thông, các công cụ đa phương tiện, hệ thống phần mềm, học liệu.
Bài báo này đi vào thảo luận các yếu tố hạ tầng của một mạng thông tin dành cho việc dạy/học ngoại ngữ hiện nay ở Việt Nam.

2. Nội dung
2.1.Khái niệm
Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu (Quốc hội. Nước CHXHCN Việt Nam, 2006).

2.2. Những yếu tố chính
Như vậy, tìm hiểu hạ tầng của một mạng thông tin dành cho việc đào tạo ngoại ngữ chúng tôi đề cập đến một số yếu tố sau:

a. Hệ thống máy chủ dịch vụ
Là một trong những thiết bị rất quan trọng, máy chủ là nơi lưu trữ nội dung các khoá học, các cơ sở dữ liệu người dùng, xử lý các truy vấn của người dùng trong mạng. Vì vậy, máy chủ cần phải đảm bảo các yêu cầu cao về khả năng hoạt động ổn định, xử lý nhanh, an toàn thông tin, cung cấp dịch vụ liên tục 24/24 giờ trong ngày. Để đảm bảo các yêu cầu trên thì hệ thống máy chủ thường phải được đặt tại nơi có điều kiện an toàn về chống cháy nổ, thiên tai, thường xuyên được sao lưu dữ liệu dự phòng, được cài đặt các phần mềm có bản quyền và được vận hành bởi những chuyên gia có trình độ và kinh nghiệm.

b. Đường truyền mạng
Đường truyền kết nối mạng có thể là mạng nội bộ (mạng LAN) hoặc mạng toàn cầu (Internet); Đây là yếu tố rất quan trọng và bị phụ thuộc rất nhiều vào hạ tầng mạng viễn thông của quốc gia, khu vực. Trong khi, đa số các trường đại học đã đầu tư xây dựng một hệ thống mạng nội bộ tốc độ cao và đồng bộ thì ở các cơ sở đào tạo cấp thấp hơn, ở các vùng sâu, vùng xa hạ tầng mạng còn rất khó khăn. Điều này gây ảnh hưởng lớn tới việc triển khai hình thức dạy và học ngoại ngữ qua mạng. Ở các thành phố lớn, do thừa hưởng hạ tầng mạng viễn thông tốt nên các trường có thể lựa chọn sử dụng các loại đường truyền cáp quang tốc độ cao (Leased line, FTTH) hay đường truyền dựa trên cáp đồng như ADSL. Dựa vào tốc độ của các công nghệ truyền dẫn trên mạng mà chúng ta cần lựa chọn việc triển khai các nội dung của các khoá học cho phù hợp. Ví dụ: với một đường truyền tốc độ cao tác có thể triển khai khoá bài học có tập tin video, audio chất lượng cao và ngược lại.

c. Phòng đa phương tiện
Các phòng đa phương tiện là nơi chứa các thiết bị chuyên dụng dành cho việc sản xuất nội dung hay dạy/học các khoá học ngoại ngữ. Việc sản xuất, truyền tải nội dung với các thiết bị chuyên dụng như máy ghi hình, máythu âm, phần mềm xử lý, nén thông tin, hình ảnh, thiết bị truyền tin.
Phòng học ngoại ngữ đa năng, đa phương tiện là những thuật ngữ dùng để chỉ các phòng học được tranh bị các thiết bị chuyên dụng dành cho việc học ngoại ngữ, các phòng học này thường được đầu tư máy tính nối mạng, hệ thống thu - phát âm thanh, thu - phát băng đĩa từ, phần mềm điều khiển, bảng tương tác thông minh, máy chiếu, màn hình tivi…
Ngoài ra, khi tham gia các khoá học trên mạng tại nhà, nơi làm việc hay ở bất cứ đâu, người học cần phải trang bị cho mình những công cụ như: máy tính cá nhân, máy tính bảng hay điện thoại thông minh có kết nối mạng, thiết bị thu phát băng đĩa, thu phát sóng truyền hình hoặc radio. Các thiết bị này phải hỗ trợ các công nghệ được tích hợp trong nội dung khoá học như đọc các định dạng tập tin, âm thanh, hình ảnh, tai nghe có chức năng ghi âm…Hiện nay, giá của các sản phẩm này ngày càng rẻ, người học có thể tự trang bị cho mình các công cụ trên dễ dàng hơn.

c. Hệ thống phần mềm quản lý
Phần mềm ở đây là công cụ quản lý và triển khai nội dung các khoá học ngoại ngữ trên mạng. Để xây dựng được một phần mềm dạy và học tốt đòi hỏi sự đầu tư kết hợp giữa các chuyên gia về CNTT với các nhà giáo học pháp. Ngày nay, các phần mềm học ngoại ngữ trên mạng khá phong phú và đang dạng, đáp ứng tốt nhu cầu học ngoại ngữ của mọi người, đặc biệt là học các kỹ năng nghe, viết, đọc. Riêng kỹ năng nói, do sự đòi hỏi phức tạp về công nghệ nên cách thức học qua mạng còn nhiều hạn chế, để có thể học tốt kỹ năng này, người học cần phải tham gia các khoá học tại các phòng máy đa năng.

2.3. Những điều kiện thuận lợi
Các số liệu thống kê gần đây cho thấy, Việt Nam là một nước có tốc độ phát triển hạ tầng công nghệ thông tin rất nhanh. Từ năm 2010 đến nay Việt Nam luôn lọt top 20 nước có tỉ lệ người sử dụng mạng internet thuộc loại cao nhất thế giới(ITU, 2012). Số liệu thống kê năm 2013 cho thấy Việt Nam đứng thứ 9 trên thế giới về số người dân sử dụng thành thạo các sản phẩm CNTT (ITU, 2013).
 

 
 Việt Nam dẫn đầu về lượng người dùng và xếp thứ hai
về tăng trưởng người dùng Internet – nguồn: comScore.

 

Theo comScore, kể từ tháng 3-2012 đến tháng 3-2013 Việt Nam là nước có số lượng người dùng Internet mỗi tháng cao nhất trong khu vực Đông Nam Á (16,1 triệu người), bỏ xa nước đứng thứ 2 là Indonexia (13,9 triệu người); cũng là nước có số tăng trường thuê bao internet đứng thứ 2 chỉ sau Philippines (Singh, 2013). Đồng thời là sự tăng trưởng và trở nên phổ biến của các thuê bao mạng di động 3G; điều đó cho thấy những điều kiện tốt cho việc triển khai các hình thức học tập, đào tạo qua mạng công nghệ thông tin (An, 2012).

3. Kết luận
Như vậy, hạ tầng mạng thông tin dành cho việc dạy/học ngoại ngữ bao gồm tất cả những thiết bị, công cụ tham gia vào quá trình dạy và học. Một hệ thống mạng thông tin tốt đỏi hỏi sự đầu tư lớn và đồng bộ không chỉ của các cơ sở giáo dục mà là của cả xã hội.
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã được sự đầu tư mạnh mẽ của Nhà nước trong việc ứng dụng CNTT. Với phương châm đổi mới giáo dục theo hướng học tập chủ động, học tập suốt đời, các phương pháp dạy/học truyền thống đang mất dần lợi thế. Thay vào đó, các phương pháp dạy và học ngoại ngữ có ứng dụng mạng thông tin truyền thông dần phát huy được thế mạnh. Với sự phát triển nhanh, đầu tư mạnh, có thể nói hạ tầng mạng thông tin đang đáp ứng khá tốt cho việc dạy và học ngoại ngữ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
An, C. (2012). Hạ tầng CNTT đã đủ thuận lợi cho đào tạo trực tuyến. Retrieved 12/42014, 2014, f-rom http://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/ha-tang-cntt-da-du-thuan-loi-cho-dao-tao-truc-tuyen-2403500.html
ITU. (2012). TOP 20 COUNTRIES WITH THE HIGHEST NUMBER OF INTERNET USERS: International Telecommunication Uni-on.
ITU. (2013). Measuring the world’s Measuring digital natives: International Telecommunication Uni-on.
Quốc hội. Nước CHXHCN Việt Nam. (2006). Luật Công nghệ Thông tin. GOVERNMENT PORTAL Retrieved f-rom http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=29137.
Singh, A. (2013). 2013 Southeast Asia Digital Future in Focus: comScore.

Người đăng:Phạm Thanh Thiểm, Nguyễn Huy Khánh
28-07-2014